Tư duy nghệ thuật và những điều cần biết

Khi nói về tư duy nghệ thuật, bạn sẽ ngồi đắn đo suy nghĩ và tìm cho mình một câu trả lời thật thỏa đáng từ sách vở, cộng đồng hoặc những người đi trước. Tuy nhiên, bài viết này không nhằm mục đích định nghĩa hay giải thích một cách hàn lâm, dài dòng về vấn đề này. Out And Out muốn giúp bạn hiểu rằng đây là yếu tố chủ chốt trong tác phẩm nghệ thuật. Đôi khi nó còn quan trọng hơn mọi hành động, kĩ thuật của người nghệ sĩ. Tư duy nghệ thuật rất căn bản và không khó hoàn thiện khi người nghệ sĩ làm chủ được các yếu tố nghệ thuật, thẩm mỹ cũng như trải nghiệm bản thân.

Trong 1 thế giới ngày càng cởi mở ngày nay, nghệ sĩ càng có nhiều cơ hội để trau dồi tư duy nghệ thuật của mình nhờ vào các phương tiện truyền thông. Có điều đáng tiếc là, 1 số nền nghệ thuật, bị thụt lại so với mặt bằng chung của thế giới vì không nhận ra sự quan trọng của việc mài dũa tư duy nghệ thuật mà bị ám ảnh bởi những tiêu chuẩn hạn hẹp và lạc hậu. Vì vậy, thông qua bài viết này, hãy cùng Out And Out tìm hiểu và phân tích các yếu tố cụ thể để hình thành nên tư duy nghệ thuật.

Nghệ thuật cần phải thỏa mãn nhưng không nhất thiết phải có cảm xúc và ngẫu hứng.

Có lẽ sẽ điều này sẽ gây chói tai cho nhiều người vì chúng ta đang sống chung với một số định kiến rằng: làm nghệ thuật phải nhiều cảm xúc, cần phải có hứng mới làm nên được tác phẩm… Tuy nhiên cảm xúc của con người, về mặt cơ bản, là sự chủ quan. Cảm xúc của một người nghệ sĩ chưa chắc tạo ra cảm xúc cho người xem. Trong khi sự ngẫu hứng cũng tương đương với may mắn. Có những lúc, chúng ta sẽ đi mua vé số vì muốn có nhiều tiền mà không phải làm gì cả. Vì thế, trở thành nô lệ của những yếu tố này sẽ khiến người nghệ sĩ không thể sáng tạo được.

Bạn nghĩ cảm xúc Duchamp là gì trong tác phẩm này?
Trên: Marcel Duchamp – Đài phun nước (Fountain), 1917
Dưới: “Đài phhun nước” trong tạp chí The Blind Man

Câu chuyện rằng Marcel Duchamp, đã gửi chiếc bồn tiểu để ngược này đặt tên là “Đài phun nước” (Fountain) và kí tên dưới bút danh R.Mutt gửi đến Hội Nghệ sĩ độc lập (Society of Independent Artists). Vào thời điểm đó, Duchamp là thành viên hội đồng quản trị. Sau nhiều cuộc tranh cãi, tác phẩm đã không được giới thiệu trong triển lãm. Sau đó, Duchamp từ chức khỏi Hội đồng để phản đối. “Đài phun nước” được trưng bày và chụp ảnh tại studio của Alfred Stieglitz, và bức ảnh được xuất bản trong The Blind Man, nhưng bản gốc đã bị mất. Giờ đây, tác phẩm này được xem như một trong những tác phẩm tiêu biểu của thế kỉ 20.

Đây chính là sự thỏa mãn của một chuỗi câu hỏi, thách thức nằm trong tư duy nghệ thuật của Duchamp nói riêng và phong trào Dada nói chung. Tác phẩm thành công ở việc gây ra cảm xúc (có phần tiêu cực, một scandal), tranh luận. Nó khiến chúng ta tự vấn và phải tìm cách tự thõa mãn chính chúng ta vì cái sự mới mẻ, thách thức các giá trị, tiêu chuẩn nghệ thuật thời bấy giờ. “Đài phun nước” chỉ là một ví dụ nhỏ của sự thỏa mãn. Câu hỏi tiếp theo đặt ra là: “Vào thời nay trong một nền nghệ thuật còn lạc hậu, những tác phẩm của sự thách thức khi nào sẽ xuất hiện?”

“Nghệ thuật vị nghệ thuật”… là lý thuyết ở đầu thế kỉ thứ 19. Tư duy nghệ thuật đương đại là sự đón nhận một cách cởi mở và đầy lí trí.

Nguyên văn chúng ta thường nghe “Nghệ thuật vị nghệ thuật, Nghệ thuật vị nhân sinh”. “Nghệ thuật vị nghệ thuật” là lý thuyết được hình thành bởi nhà thơ, nhà phê bình nghệ thuật người pháp Théophile Gautier (1811-1872) (còn vế “Nghệ thuật vị nhân sinh” hình thành từ đâu và luận điểm là gì thì Out And Out cũng không rõ nguồn gốc).

Lý thuyết này xuất hiện trong lời nói đầu của cuốn sách Mademoiselle de Maupin (Quý cô Maupin) năm 1834:

Phải: Nhà thơ, phê bình nghệ thuật Théophile Gautier.
Trái: Tác phẩm “Quý cô Maubine”

“Nhạc hay để làm gì? Bức tranh đẹp để làm gì? Ai sẽ là những kẻ ngu ngốc khi cùng thích Mozart, M. Carrel, Michelangelo và kẻ đã phát minh ra mù tạt trắng? Không có gì thực sự đẹp ngoại trừ cái mà không thể sử dụng được; tất cả những gì hữu ích đều xấu. […] Tôi thích một chiếc bình nào đó phục vụ cho tôi dưới dạng một chiếc bình hoa Trung Quốc, chạm khắc với những con rồng và chữ quan thoại, mà không phục vụ cho bất kì nhu cầu nào của tôi.”

Lý thuyết nói về vẻ đẹp đã được định hình và tiêu chuẩn hóa trong thời bấy giờ. Tuy nhiên, nó đã bị bác bỏ bởi nhiều nhà triết học lớn như George Sand, Friedrich Nietzsche… Một điều thú vị là lý thuyết này vẫn còn tồn tại đến bây giờ và được giảng dạy ở một số nền nghệ thuật. Đồng nghĩa rằng các tiêu chuẩn nghệ thuật, thẩm mỹ, cái đẹp đại chúng vẫn đang nằm ở… đầu thế kỉ 19. Tả thực chân dung và tĩnh vật vẫn là chuẩn mực để xác định năng lực nghệ sĩ. Và như thế, nền giáo dục bị cảm tính và thiếu ứng dụng.

Người viết cũng đã từng suy nghĩ và tin vào lý thuyết này. Sau quá trình học tập và suy luận, người viết đúc kết ra rằng những gì của thế kỉ thứ 19 nên nằm ở thế kỉ thứ 19. Cũng như các môn khoa học, nghệ thuật cũng có những chuỗi tư duy lí luận lô-gíc, nối kết và phát triển. Ở đây, chúng ta sẽ không xác định đúng sai về lý thuyết này. Để nói một cách chính xác nhất, sự tồn tại của lý thuyết này chính là lí do hình thành của những lý thuyết và tư duy khác. Bản thân những nghệ sĩ nổi tiếng cũng rất am hiểu lịch sử và tư duy của những người đi trước để hình thành tư duy nghệ thuật của chính bản thân. Và đó là tiền đề của những thế hệ nghệ sĩ tiếp theo xây dài thêm cây cầu lịch sử của nghệ thuật thế giới. Nghiên cứu và học tập cả 1 chiều dài hình thành nền nghệ thuật thế giới chính là cách tốt nhất để mài dũa tư duy nghệ thuật. Nếu không, người nghệ sĩ sẽ bị mắc kẹt trong cái tôi cá nhân cực đoan, lạc hậu và những chuẩn mực lỗi thời.

Bạn là chuột Mickey hay là vịt Donald trong tác phẩm này?
Roy Lichtenstein, Nhìn này Mickey (Look Mickey), 1961, tranh sơn dầu.

Chúng ta đang sống ở thế kỉ 21, khi mà các nền văn hóa đang trở nên không biên giới. Những yếu tố nghệ thuật cũ được sử dụng chỉ để tạo ra cái mới hơn. Chuẩn mực cái đẹp trở nên trừu tượng hơn và không nhất thiết phải rõ ràng. Ngoài ra, trong một tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp, đầu tiên được định nghĩa bởi triết gia Platon chỉ là 1 trong hàng loạt các yếu tố nghệ thuật khác được đúc kết từ thẩm mỹ học: sublime – sự tuyệt vời bởi Kant, imitation – sự bắt chước bởi Platon,… Nếu chỉ có dựa vào lối suy nghĩ, kĩ thuật của thế kỉ 19, khả năng cao người xem sẽ bị ngợp, sốc và có cái nhìn tiêu cực đối với những tác phẩm ở thế kỉ 20, 21. Vì nghệ thuật không có giới hạn, nên người xem cũng nên không chỉ giới hạn bởi việc thích hay không. Thay vào đó hãy trở nên tò mò hơn để thấy những điều thú vị hơn.

Damien Hirst, “Một vài sự thoải mái từ việc chấp nhận của những kẻ liều lĩnh trong mọi thứ”,
(Some Comfort Gained from the Acceptance of the Inherent Lies in Everything), 1996.
Kính, thép sơn, silicone, acrylic, cáp nhựa, con bò và dung dịch formaldehyde
Trái: Jeff Koons cùng tác phẩm “Chó bong bóng”, thép không rỉ.
Phải: Jeff Koons trong dự án hợp tác “Masters collection” với Louis Vuitton.

Ngày nay các nghệ sĩ đương đại đóng góp cho nền nghệ thuật thế giới: Jeff Koons, Damien Hirst, Jasper Johns… kiếm rất nhiều tiền. Dù tích cực hay tiêu cực, họ cũng đang “vị nghệ thuật” một cách rất hiệu quả. Có thể nói rằng tư duy nghệ thuật của họ được đón nhận và quy đổi ra vật chất.

Vẽ, chụp ảnh, biết bố cục, dị dị. Tôi có phải là một người nghệ sĩ?

Câu trả lời là không vì những gì bạn biết làm chỉ là những kĩ năng nghệ thuật cơ bản. Cho dù bạn có vẽ tả thực chính xác tới đâu mà tác phẩm của bạn không có tư duy nghệ thuật nào cả thì cũng chỉ dừng ở mức người yêu thích nghệ thuật hoặc thợ vẽ thôi. Không có định nghĩa chính xác nào cho nghề “nghệ sĩ”. Nhưng tạm thời những người có những kĩ năng làm nghệ thuật (vẽ, hát, chụp ảnh,…) được cho là nghệ sĩ trong xã hội ngày nay.

Quay lại nhiều thế kỉ trước, nhiều tác phẩm vĩ mô của các bậc thầy như Da Vinci, Raphael được hoàn thành dưới sự giúp đỡ của rất nhiều trợ lí. Những người trợ lí này cũng sở hữu những khả năng và kĩ thuật thượng thừa để có thể hoàn thành yêu cầu của các bậc thầy. Bản thân Da Vinci, cũng đã từng là trợ lí cho bậc thầy Verrocchio, hoàn thành tác phẩm “Lễ rửa tội của Chúa Kitô”. Từ sau đó, chúng ta đều biết đến sự vĩ đại của Leonardo Da Vinci.

Andrea del Verrocchio, “Lễ rửa tội của chúa Kitô” (The Baptism of Christ), khoảng 1475

Ở một số nền nghệ thuật, tầng lớp được cho là nghệ sĩ chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện bản thân và vẽ theo cảm tính. Ý thức vận hành một xưởng vẽ chuyên nghiệp của bản thân để cho những ý tưởng lớn hơn thường không bao giờ được xem trọng. Điều này dẫn đến việc mối quan hệ giữa cộng đồng và nghệ sĩ bị đóng kín hoàn toàn. Các học viên được đào tạo ra cũng không được hiểu về điều này do bị khuyết về giáo dục. Từ thế hệ này đến thế hệ khác của nền nghệ thuật đó vẫn chỉ dừng ở mức ứng dụng nghệ thuật và thiếu sáng tạo hoàn toàn.

Tư duy nghệ thuật tạo ra những ý tưởng sáng tạo và đây chính là sự khác biệt giữa 1 người nghệ sĩ và 1 người có kỹ năng làm nghệ thuật. Theo chiều dài lịch sử nghệ thuật, các nghệ sĩ luôn tạo ra nhiều cuộc cạnh tranh quyết liệt về tư duy nghệ thuật để tạo ra ý tưởng mới. Làm khác đi một tí so với thị trường hay trở nên “dị dị” không giúp cho nghệ thuật của bạn trở nên có giá trị, sáng tạo. Những hành động, suy nghĩ ấy chỉ là những tính toán thực hiện tác phẩm đơn thuần. Việc chất vấn các yếu tố trong đời sống, chất vấn về bản chất nghệ thuật, trải nghiệm bản thân sẽ là “mồi lửa” cho những ý tưởng sáng tạo. Đó cũng chính là thành quả của một chuỗi tư duy và được miêu tả qua tác phẩm. Không có một sự ngẫu hứng hay ngẫu nhiên nào cả.

Jackson Polloc, số 1 (Number 1),1949.
Men và sơn kim loại trên vải

Như tuyên bố của Pollock năm 1947: “Khi tôi ở trong bức tranh của mình, tôi không biết mình đang làm gì. Chỉ sau một giai đoạn “làm quen” những trạng thái tôi đã ở trong đó, tôi không sợ về việc thay đổi, phá hủy hình ảnh, v.v…. bởi vì bức tranh có một cuộc sống riêng của nó. Tôi đã cố gắng để cho nó trôi qua. Chỉ đến khi tôi mất liên lạc với bức tranh thì kết quả là một mớ hỗn độn. Mặt khác có một hài hòa thuần khiết, dễ dàng cho và lấy, và bức tranh hình thành một cách mỹ mãn.”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *